Danh ngôn về tư duy


Người ta không lười biếng chỉ vì người ta chăm chú. Có lao động vô hình và lao động hữu hình. Suy tưởng là cần cù, nghỉ ngợi là thực hiện. Khoanh tay vẫn là làm việc và siết chặt tay vẫn là hành động. Đôi mắt ngước lên Thiên đường là sáng tạo.
One is not idle because one is absorbed. There is both visible and invisible labor. To contemplate is to toil, to think is to do. The crossed arms work, the clasped hands act. The eyes upturned to Heaven are an act of creation.
Victor Hugo

~*~
Người ta không được trả lương vì có đầu và tay, mà vì sử dụng chúng.
A man is not paid for having a head and hands, but for using them.
Elbert Hubbard

~*~
Phần lớn con người không thể viết bởi họ không thể tư duy, và họ không thể tư duy bởi họ không bẩm sinh được trang bị công cụ để làm điều đó, cũng như họ bẩm sinh đã thiếu công cụ để bay qua mặt trăng.
Most people are unable to write because they are unable to think, and they are unable to think because they congenitally lack the equipment to do so, just as they congenitally lack the equipment to fly over the moon.
Henry Louis Mencken

~*~
Tổ tiên của mọi hành động là suy nghĩ.
The ancestor of every action is a thought.
Ralph Waldo Emerson
     
~*~
Mọi vấn đề đều liên quan tới một mặt là xúc cảm, và mặt khác là đạo đức. Trò chơi của tư duy là trước sự hiện diện của một trong hai mặt, phải tìm được mặt còn lại: được trao mặt trên, đi tìm mặt dưới.
Every fact is related on one side to sensation, and, on the other, to morals. The game of thought is, on the appearance of one of these two sides, to find the other: given the upper, to find the under side.
Ralph Waldo Emerson
     
~*~
Sự kiện chính trong cuộc đời là ngày mà chúng ta bắt gặp một khối óc khiến chúng ta kinh ngạc.
A chief event of life is the day in which we have encountered a mind that startled us.
Ralph Waldo Emerson
   
~*~
Đầu chúng ta tròn để tư duy có thể thay đổi phương hướng.
Our heads are round so thought can change direction.
Allen Ginsberg

~*~
Hãy để trí óc con người tự do. Nó phải được tự do. Nó sẽ được tự do. Sự mê tín và giáo điều không thể giam cầm được nó.
Let the human mind loose. It must be loose. It will be loose. Superstition and dogmatism cannot confine it.
John Adams

~*~
Trí óc già nua cũng như những chú ngựa già nua; bạn phải để chúng luyện tập nếu bạn muốn chúng hoạt động được tốt.
Old minds are like old horses; you must exercise them if you wish to keep them in working order.
John Adams
   
~*~
Tự do, theo quan điểm siêu hình học của tôi, là quyền lực tự quyết trong một thực thể có tư duy. Nó đưa đến suy nghĩ, lựa chọn và sức mạnh.
Liberty, according to my metaphysics is a self-determining power in an intellectual agent. It implies thought and choice and power.
John Adams

~*~
Thế giới là bi kịch đối với những ai cảm nhận, nhưng là hài kịch đối với những ai suy nghĩ.
The world is a tragedy to those who feel, but a comedy to those who think.
Horace Walpole
  
~*~
Khi tất cả đều nghĩ giống nhau, chẳng ai nghĩ nhiều cả.
Where all think alike, no one thinks very much.
Walter Lippmann

~*~
Một trong những bất lợi của rượu là nó khiến người ta nhầm lẫn ngôn từ với tư duy.
One of the disadvantages of wine is that it makes a man mistake words for thoughts.
Samuel Johnson

~*~
Ngôn ngữ là y phục của tư duy.
Language is the dress of thought.
Samuel Johnson

~*~
Tình yêu là sự thông thái của kẻ khờ và sự khờ dại của người thông thái.
Love is the wisdom of the fool and the folly of the wise.
Samuel Johnson

~*~
Có một thứ cho tư duy con người sự hấp dẫn nhiều hơn tất cả, và đó là luôn luôn khuấy động. Một trí óc không luôn luôn khuấy động khiến tôi buồn chán và khó chịu.
One thing above all gives charm to men's thoughts, and this is unrest. A mind that is not uneasy irritates and bores me.
Anatole France

~*~
Không rắc rối nào đứng vững được trước cuộc tấn công của suy nghĩ kiên trì.
No problem can withstand the assault of sustained thinking.
Voltaire

~*~
Tư tưởng luôn luôn là sự khái quát, và sự khái quát là một thuộc tính của tư duy. Khái quát nghĩa là tư duy.
An idea is always a generalization, and generalization is a property of thinking. To generalize means to think.
Hegel

~*~
Hãy nhớ điều này, những con người của hành động đầy kiêu hãnh! Các anh ở đây, rốt cục cũng chỉ là công cụ vô thức cho những con người của tư duy.
Mark this well, you proud men of action! you are, after all, nothing but unconscious instruments of the men of thought.
Hegel
  
~*~
Trí óc hạng ba chỉ hạnh phúc khi nó nghĩ cùng với đa số. Trí óc hạng hai chỉ hạnh phúc khi nó nghĩ cùng với thiểu số. Trí óc hạng nhất chỉ hạnh phúc khi nó nghĩ.
The third-rate mind is only happy when it is thinking with the majority. The second-rate mind is only happy when it is thinking with the minority. The first-rate mind is only happy when it is thinking.
A. A. Milne

~*~
Đã bao giờ bạn dừng lại để nghĩ, và quên mất lại bắt đầu?
Did you ever stop to think, and forget to start again?
A. A. Milne
   
~*~
Có trí óc tốt vẫn chưa đủ, quan trọng là biết sử dụng nó.
It is not enough to have a good mind; the main thing is to use it well.
Rene Descartes
     
~*~
Tôi tư duy nên tôi tồn tại.
I think; therefore I am.
Rene Descartes

~*~
Người biết cách nghĩ không cần thầy giáo.
Those who know how to think need no teachers.
Mahatma Gandhi

~*~
Cũng như một bước chân đơn độc không thể tạo nên đường mòn trên mặt đất, một ý nghĩ đơn độc không thể tạo nên con đường của tư duy. Để xây dựng con đường hằn sâu xuống đất, chúng ta phải qua lại rất nhiều. Để xây dựng con đường hằn sâu trong trí óc, chúng ta phải nghĩ đi nghĩ lại loại ý nghĩ chúng ta muốn chi phối cuộc đời mình.
As a single footstep will not make a path on the earth, so a single thought will not make a pathway in the mind. To make a deep physical path, we walk again and again. To make a deep mental path, we must think over and over the kind of thoughts we wish to dominate our lives.
Henry David Thoreau
  
~*~
Mọi sự khó khăn sâu sắc đều mang sẵn trong mình giải pháp. Nó buộc chúng ta phải thay đổi suy nghĩ để tìm ra.
Every great and deep difficulty bears in itself its own solution. It forces us to change our thinking in order to find it.
Niels Bohr

~*~
Bạn suy nghĩ được rõ ràng bao nhiêu thì hãy chỉ thể hiện bản thân mình rõ đến thế mà thôi.
Never express yourself more clearly than you are able to think.
Niels Bohr

~*~
Mức cao nhất có thể đạt được của văn hóa đạo đức là khi chúng ta nhận ra mình phải kiểm soát suy nghĩ của mình.
The highest possible stage in moral culture is when we recognize that we ought to control our thoughts.
Charles Darwin

~*~
Sự minh mẫn chỉ là thứ nằm trong khung tham chiếu của tư duy theo thói quen.
Sanity is only that which is within the frame of reference of conventional thought.
Erich Fromm

Một số phương pháp rèn luyện trí nhớ


Những người có trí nhớ phi thường với khả năng ghi nhớ thứ tự một bộ bài đã bị xáo trộn, hay hàng trăm con số ngẫu nhiên trong vòng vài phút, họ không hề có bất cứ năng lực nào đặc biệt. Bộ não của họ hoàn toàn chẳng khác gì của chúng ta, nhưng bí mật của họ nằm ở cách thức tập luyện. Dưới đây là một vài thủ thuật được Nelson Dellis, nhà vô địch lần thứ 15 của giải đấu USA Memory Championship chia sẻ.

Trước khi đi vào những phương thức tập luyện cụ thể bên dưới, bạn đọc có thể tạm thời thử sức mình với những con số ở bảng dưới đây. Hãy dành 5 phút để bộ não hoạt động hết ga, và xem bạn nhớ được bao nhiêu trong số 500 con số này.

Biến những thứ khô khan thành hình ảnh sống động

500 con số ở trên có thể là cơn ác mộng kinh hoàng với bất kỳ ai ở đây, nhưng đừng vội nản chí, nếu biết cách, bạn có thể biến chúng từ những viên sỏi khô khan thành món ăn dễ nuốt hơn rất nhiều. Về cơ bản, có 2 bước để bạn ghi nhớ bất cứ thứ gì, từ một số điện thoại bất kỳ trong danh bạ cho đến việc bạn đỗ xe ở đâu sáng nay.

1. Biến những thứ mà bộ não của bạn không muốn ghi nhớ thành những hình ảnh sinh động.

2. Tìm một nơi để "neo" lại những hình ảnh đó.

Hãy lấy ví dụ với cái tên Nelson ở trên. Bạn có thể dễ dàng liên tưởng đến một nhân vật nổi tiếng khác cũng có cái tên này - Nelson Mandela. Tiếp theo, với bước thứ 2, hãy cố hình dung 1 đặc điểm nào đó để "neo" lại cái tên này. Ví dụ như với cái mũi quá khổ của Nelson, bạn có thể tưởng tượng ra cảnh Nelson Mandela đang.....thoát y trên cái mũi của Nelson - nhà vô địch đang đứng ngay trước mặt bạn. Hãy nhớ rằng, càng để những hình ảnh này lố bịch bao nhiêu, bạn sẽ càng nhớ được thông tin lâu bấy nhiêu.

Riêng với những cái tên, đừng bao giờ nhìn vào cách viết, mà hãy tập trung vào cách phát âm. Phá vỡ cái tên đó thành từng âm tiết đơn lẻ và biến nó thành những hình ảnh. Với cái tên Nelson, bạn có thể tách nó ra thành 2 phần Nel - quỳ (phát âm gần với Knee) và Son - mặt trời (đồng âm với Sun), và từ đó, bạn có thể nghĩ đến hình ảnh một người đang quỳ gối và chỉ tay vào mặt trời.

Cái "neo" được dùng có thể là bất cứ thứ gì, một chi tiết nào đó trên bộ quần áo, mắt, bộ ria mép... Bất cứ thứ gì tạo ấn tượng nhất cho bạn

Như vậy, khi bạn gặp ai đó và nghe họ tự giới thiệu tên mình, hãy cố tách cái tên đó thành từng âm tiết một, biến những âm tiết này thành những hình ảnh sinh động và đặt chúng vào một cái "neo" nào đó. Khi gặp lại nhau vào lần sau, chỉ cần nhìn vào chi tiết này, bạn sẽ lập tức nhớ về những hình ảnh rất lố bịch mà mình đã tưởng tượng ra, và từ đó dễ dàng nhớ lại tên của người đó.

Lấy ví dụ với một bệnh nhân mà tác giả vừa gặp sáng nay, với cái tên Thủy - trùng với tên một cô nàng rất hot ở lớp cấp 2 của tôi. Cái "neo" mà tác giả chọn ở đây là cặp môi rất khiêu khích, và chỉ cần tưởng tượng 1 chút, ví dụ như cảnh 2 cô nàng quấn lấy nhau môi trong môi, tác giả đã có thể dễ dàng nhớ lại được cái tên này. Khá là lợm giọng, nhưng cũng rất dễ nhớ.

Kết nối các liên tưởng

Để nhớ được 1 dãy dài dằng dặc các con số, hay thứ tự một bộ bài nào đó, kỹ thuật tách-và-neo cũng cần được áp dụng, nhưng bạn cần đẩy nó lên một tầm cao khác.

Kỹ thuật thường được áp dụng có tên gọi là Dominic System, được phát minh bởi Dominic O'Brien, một nhà vô địch khác của giải đấu Memory Champion. Về mặt nguyên lý, những con số sẽ được chuyển thành những cái tên viết tắt của một ai đó, và chúng được "neo" với một chi tiết hoặc hành động đặc trưng của người đó để chúng ta có thể dễ dàng hình dung hơn. Hãy lấy ví dụ với số 00. Bạn sẽ chuyển 2 chữ số này thành OO - và nhiều người sẽ dễ dàng liên tưởng đến cái tên Ozzy Osbourne. Chi tiết được sử dụng ở đây có thể là cảnh Ozzy đang nhai nát bét đầu một con dơi nào đó, và rõ ràng cái này thì dễ nhớ hơn nhiều so với một số 0 giữa cả biển số.


Để cách thức này có hiệu quả, bạn cần phải cá nhân hóa những liên tưởng này. Càng gần gũi và càng "dị", chúng sẽ càng dễ nhớ hơn. Hãy thử áp dụng cách thức này trong việc ghi nhớ thứ tự của 52 quân bài. Lấy ví dụ với quân J Bích, có lẽ bạn sẽ liên tưởng ngay đến cái tên Justin Bieber. Chi tiết đính kèm có thể là mái tóc khá nữ tính của chàng ca sĩ đầy tai tiếng này. Tiếp theo, với quân Mười Rô, vâng , 2 từ viết tắt MR không thể không làm tác giả nhớ ngay đến đức mẹ Maria thần thánh, và chi tiết đính kèm ở đây chắc không cần phải bàn tiếp.

Cách làm này sẽ làm bạn rất nhanh chóng nhớ được thứ tự của các quân bài. Hãy tưởng tượng rằng nhân vật trong lá bài thứ nhất đang thực hiện hành động trong lá bài thứ 2, với chi tiết trong lá bài thứ 3. Ví dụ như Justin Bieber (J Bích), đang....tự sướng (Mười Rô) với cái quần đùi của Axl Rose (Át Rô).

Sẽ mất một khoảng thời gian cho việc nhanh chóng thiết lập ra sự liên tưởng và mối liên hệ giữa các lá bài (hay những con số, hay bất cứ thứ gì khác), và nó thực sự làm bạn ngày càng trở nên sáng tạo hơn. Những nhà vô địch trong cuộc thi Memory Champion có thể dễ dàng ghi nhớ thứ tự của 52 lá bài chỉ trong chưa đầy 2 phút. (Nelson, nhà vô địch gần đây nhất cần chưa đến một phút).

Thực hành mỗi ngày

Hãy tự mình xây dựng nên một kho tàng trí nhớ, bắt đầu ngay từ nơi quen thuộc nhất - căn nhà của bạn. Chú ý đến mọi chi tiêt, biến chúng thành những hình ảnh sống động, và hơi kỳ quái một chút thì càng tốt. Tạo ra mối liên hệ nào đó giữa những chi tiết này với nhau, để chúng liền mạch thành một câu chuyện không có hồi kết. Nếu bạn không phải là người có trí tưởng tượng tốt, hãy cố gắng kết hợp càng nhiều giác quan càng tốt - màu sắc, tiếng động, mùi vị.... Tập quan sát nhiều hơn và chú ý nhiều hơn. Hãy nhớ rằng, chính sự thiếu tập trung là kẻ thù lớn nhất của trí nhớ.

Genk

Rèn Luyện Trí Nhớ Bằng Các Thói Quen

Có một trí nhớ tốt giúp bạn có một cuộc sống khoa học cho sức khỏe, công việc và các hoạt động khác. Một phần rất quan trọng của trí nhớ nữa là, giúp bạn vẫn nhận thức rõ nét khi về già. Bạn có thể luyện tập trí nhớ của mình với các thói quen đơn giản sau.

1. Đọc thường xuyên
Việc đọc mỗi ngày rất tốt cho sự tưởng tượng của trí não. Hãy giảm bớt thời gian xem tivi xuống và tăng thời gian đọc lên bạn sẽ thấy khả năng nhớ, suy nghĩ logic được phát triển, tăng lên đáng kể. Hãy kiểm tra nó bằng cách đưa ra một chủ đề để suy nghĩ và bàn luận với một người bạn.
Tuy nhiên điều bạn cần chú ý là: không đọc một loại sách báo/tạp chí. Hãy đọc nhiều thể loại xen kẻ nhau. Ví dụ bạn là người yêu thích thể loại truyện khám phá, bí ẩn. Hãy đọc cùng với một số sách như lịch sử, khoa học viễn tưởng. Việc đọc xen kẽ này giúp cho sự liên tưởng của bạn cũng được rèn luyện và phong phú hơn.

2. Phát triển sự tưởng tượng của các giác quan
Hãy nhắm mắt vào, tập trung hình dung ra các cảnh, bức tranh mà bạn đang nghĩ đến. 

Ví dụ:
Sóng biển đang vỗ, 
Cảnh mặt trời mọc sau một đêm mưa lớn, 
Con sư tử đuổi bắt một con sơn dương,
Im lặng trong bóng tối,
Tiếng kêu hoảng hốt trong đêm,
Mưa trong rừng vắng.

Sau đó bạn ngồi viết ra tên từng bức tranh một với những gì bạn đã hình dung. Nếu bạn làm được nhiều hơn 6 bức tranh mỗi ngày thì bạn đã luyện tập thành công.
Hãy rèn luyện kỹ năng viết để rèn luyện trí nhớ bằng các thói quen. Ảnh: internet

3. Rèn luyện kỹ năng viết
Viết rất tốt cho việc rèn luyện trí nhớ của bạn. Bởi trong quá trình viết bạn phải nhớ lại, hình dung và chuyển thành ngôn ngữ. Nếu bạn có sở thích khác như vẽ thì bạn có thể thay việc viết bằng việc vẽ. Tất cả những thói quen này không chỉ tốt cho trí nhớ mà còn rất tốt cho sự sáng tạo.

4. Chơi game
Hãy chọn cho mình một số game trí tuệ để chơi. Ví dụ cờ vua, cờ tướng, trò chơi trí nhớ, câu đố logic, trò chơi ô chữ. Tất cả các trò chơi này đều cải thiện trí nhớ của bạn, phát triển logic, tăng tốc độ và tăng cường tinh thần sáng tạo.
5. Luyện tập tay không thuận
Nếu thuận tay phải, bạn hãy cố gắng thực hiện các công việc hàng ngày bằng tay trái (hoặc ngược lại). Bằng cách này, bạn sẽ luyện tập cho bán cầu não còn lại của mình được hoạt động nhiều hơn. Một số công việc sẽ vô cùng khó khăn vào lúc đầu, nhưng qua thời gian bạn có thể rèn luyện mình để được thuận cả hai tay trong nhiều trường hợp.

6. Luyện tập kỹ năng giao tiếp, thuyết trình
Việc bạn tiếp nhận và lưu trữ thông tin mà không thể đưa nó ra bên ngoài bằng cách nào đó cũng sẽ làm mài mòn não và trí nhớ của bạn. Hãy chia sẻ và luyện tập các kỹ năng về giao tiếp, thuyết trình. Khi bạn thực hiện được điều này thì bạn sẽ khắc sâu thông tin vào não mình hơn một mức nữa.

7. Học một ngoại ngữ mới
Một trong những cách mạnh mẽ nhất để tập thể dục cho não bộ của bạn là học một ngôn ngữ mới. Bạn có thể đăng kí một khóa học tại các trung tâm ngôn ngữ. Nếu không thuận tiện, bạn có thể học một ngoại ngữ trực tuyến hoặc bằng cách nghe băng.
Còn có nhiều cách khác để tập thể dục não của bạn như ngồi thiền, làm toán, học tập để chơi một loại nhạc cụ và mở rộng vốn từ vựng của bạn. Điều quan trọng là tránh đi vào một thói quen. Bằng cách thay đổi các hoạt động hàng ngày và tham gia vào những thách thức mới, bạn có thể nâng cao năng lực tinh thần và kích thích bộ não của bạn.

Lê Hòa

Tối đa hóa trí thông minh cho trẻ


Bạn hãy làm theo những bí quyết sau để tối đa hóa tiềm năng của não bé từ 2 đến 5 tuổi.

Khi mới sinh ra, bé đã có hơn 100 tỉ tế bào não. Những tế bào này cần phải liên kết với nhau. Theo thuyết tiến hóa của Darwin, những liên kết được dùng nhiều nhất sẽ phát triển và những liên kết ít sử dụng sẽ bị tiêu diệt. Giai đoạn vàng cho bé để học và hiểu là những năm đầu đời, tạo nền tảng cho cả cuộc sống sau này. 3 năm đầu tiên là giai đoạn quan trọng nhất, bộ não của bé lên 3 hoạt động tích cực gấp 2 lần bộ não của một người trưởng thành. Giai đoạn quan trọng thứ hai là 3 năm tiếp theo. Vì thế, điều quan trọng nhất là khuyến khích bé những hoạt động để giúp não phát triển trong giai đoạn này. 

Nghiên cứu đã phát hiện vai trò của môi trường, cách chăm sóc với sự phát triển của não bộ. Bạn hãy làm theo những “bí quyết” sau để tối đa hóa tiềm năng của não bé từ 2 đến 5 tuổi:

1. Cho phần não xúc cảm và giao tiếp xã hội:

Tạo một môi trường an toàn và đầy tình yêu thương cho con bạn. Vuốt ve là cách cơ bản để bé cảm thấy được an toàn. Khi làn da được đụng chạm, ký hiệu sẽ truyền lên não để hình thành và tạo kết nối. Bé cảm nhận được tình yêu của bạn qua mỗi cử chỉ âu yếm cũng như cách bạn đáp ứng nhu cầu ăn khi đói, vỗ về khi khó chịu của bé.

Bạn có biết thiếu sự quan tâm, chăm sóc sẽ ảnh hưởng xấu lên phát triển não của bé? Khi bé căng thẳng, hoóc môn cortisol sẽ làm giảm những kết nối trong não và làm cho phần điều khiển cảm xúc và kết nối trong não nhỏ hơn bình thường. Vì thế, hãy giúp cho thế giới xung quanh của con an toàn và theo thời khóa biểu cố định (như giờ ăn, giờ ngủ cố định) cho bé.

2. Cho phần não về thính giác và thị giác:

Trẻ nhỏ học bằng cách sử dụng và thực nghiệm 5 giác quan – sờ, nếm, ngửi, nhìn, nói và nghe. Tạo điều kiện cho con tiếp cận những điều mới mẻ giúp bộ não củng cố những kết nối cũ và tạo kết nối mới.

- Quan sát khi con chơi: khi bé bỏ đồ chơi vào miệng, đó cũng là một cách để bé cảm nhận được đồ chơi. Khi đó, bé cảm nhận sự vật qua 5 giác quan của mình. Do đó, những trải nghiệm không chỉ bằng tay giúp phát triển các phần khác nhau trên não. Hãy cho phép bé nghịch ngợm (khi nào bé vẫn được an toàn) để sớ mó, cảm nhận, ngửi, nhìn, và nghe, các chất liệu khác nhau.

- Tạo điều kiện cho bé tự giải quyết những vấn đề đơn giản như với lấy đồ chơi dưới gầm bàn, chọn quần áo cho dịp nào đó, hay lựa món đồ chơi mà bé thích. Bạn chỉ dẫn dắt bé, và hãy đặt câu hỏi, thay vì trả lời thay.

- Khi đọc sách hay chơi đùa, cho phép bé đọc đi đọc lại một cuốn sách, chơi đi chơi lại một món đồ chơi. Đó là khi não tạo lập trải nghiệm và đồng thời sự kết nối.

- Cho bé chơi nhiều loại nhạc cụ, nghe nhiều loại âm nhạc, từ nhiều nền văn hóa khác nhau. Có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy trải nghiệm âm nhạc từ khi còn nhỏ có thể giúp bé học toán tốt hơn. Bên cạnh đó, âm nhạc cho bé giai điệu, nhịp điệu, các tiết tấu, giúp phát triển kỹ năng về không gian. Khoảng từ 1 tuổi trở lên cho đến 4 tuổi là khi bé phát triển khả năng hiểu logic và khái niệm toán, do đó cho bé học nhạc vào thời gian này là phù hợp.

3.  Cho phần não về kỹ năng ngôn ngữ:

Hãy nói và nói chuyện thật nhiều với con, giúp bé phát triển phần não về kỹ năng ngôn ngữ. Bé cần được nghe bạn nói rất lâu trước khi bé biết nói. Nghiên cứu phát hiện rằng bé được nghe mẹ nói chuyện từ khi còn rất nhỏ có vốn ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp tốt hơn nhiều so với các bạn khác. Đừng ngại nói đi nói lại một từ cho bé nghe, hát nhiều lần một bài của bé, đọc sách cho bé, gọi tên các hành động. Khi bé lớn lên, hãy cùng bé kể lại một câu chuyện, đặt những câu hỏi mở, đọc sách và viết cùng con.

4. Cho phần não về kỹ năng vận động:

Với trẻ thơ, chơi cũng là một cách học. Thông qua các trò chơi, trẻ biết cách điều khiển cũng như kết hợp phản xạ tay chơi khéo léo hơn. Đặc biệt, thông qua nhảy múa, trẻ sẽ học được nhiều kỹ năng cùng lúc: bé được tạo nền tảng cơ bản với bộ môn múa, các bước nhảy, chuyển động cơ thê. Đồng thời, bé học được sự linh hoạt trong ngẫu hứng âm thanh, âm nhạc với chuyển động của cơ thể, phát triển trí tưởng tượng qua các điệu múa.

Thông qua hội họa, không chỉ rèn giũa kỹ năng về thị giác, bé học vẽ các đường nét khác nhau, di màu và thể hiện được tình cảm tích cực của bé. Bên cạnh đó, phối hợp được cử động bàn tay, ngón tay và phối hợp tay-mắt trong các hoạt động vẽ.

5.  Cho sự phát triển nhận thức của não nói chung:

Trẻ cần sự tình yêu, nuôi dưỡng và giúp đỡ của bạn, người sẽ giúp trẻ tối đa hóa khả năng, trong đó có trí thông minh. Dinh dưỡng tốt vô cùng cần thiết cho trẻ từ khi sinh ra, và đặc biệt trong những năm đầu đời. Khoa học đã chứng minh bé cần một hệ 12 dưỡng chất bao gồm: DHA, AA, Omega 3 & 6, Taurine, Choline, Sắt, Kẽm, Acid Folic, Lutein- giúp tăng cường thị giác và Phospholipid - giúp thúc đẩy phát triển não bộ. Các chất này có trong nhiều nhóm thực phẩm khác nhau như các loại rau lá xanh thẫm, cá hồi (giàu omega 3), các loại hạt, dầu thực vật, các loại thịt, trái cây tươi và sản phẩm từ sữa... Đặc biệt, hệ dưỡng chất này có đầy đủ trong một số sản phẩm sữa công thức hiện nay có trên thị trường.
Trình Vũ (Nguồn: beiqthatgioi.com)

Tư duy logic - Nền tảng của mọi tri thức



“Tại sao tư duy logic tốt mà lại quá ít (hay chưa có) nhà khoa học tầm cỡ thế giới? Tại sao có nhiều người thông minh mà lại quá ít thiên tài? Hay tại sao chỉ số giáo dục được UNDP đánh giá cao mà nền giáo dục lại quá nhiều điều dở?” (PGS. Hồ Sĩ Quý)

Tư duy logic là gì?

Chìa khóa để tối ưu hóa khả năng phát triển cá nhân và khả năng hoạch định tổ chức công việc một cách hiệu quả, đó chính là "Tư duy có logic".

Logic hay luận lý học, từ tiếng Hy Lạp cổ điển logos, nghĩa nguyên thủy là từ ngữ, hoặc điều đã được nói, (nhưng trong nhiều ngôn ngữ châu Âu đã trở thành có ý nghĩa là suy nghĩ hoặc lập luận hay lý trí).

Trong cuộc sống hằng ngày, mọi hoạt động của con người đều thông qua tư duy của họ. Khác với hành động của con vật mang tính bản năng, hành động của con người luôn mang tính tự giác. Con người, trước khi bắt tay vào hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, đều đã có sẵn dự án trong đầu. Sự khác biệt ấy là vì con người có tư duy và biết vận dụng sức mạnh của tư duy vào việc thực hiện các mục đích của mình. Trong quá trình hoạt động đó, con người dần dần phát hiện ra các thao tác của tư duy.

Nói đến tư duy logic thì nhân loại, ở châu Phi hay ở châu Âu, ở châu Á hay ở châu Mỹ, từ Albert Einstein cho đến mỗi người chúng ta, ai ai trong đầu cũng đều có so sánh, phán đoán, suy lý, trên cơ sở các ý niệm, khái niệm về các hiện tượng, sự vật xung quanh. Nghĩa là tự nhiên ban cho con người bộ não hoạt động tư duy với các quy luật logic vốn có, khách quan ở tất cả mọi người và mọi dân tộc.

Cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức, con người càng ngày càng có sự hiểu biết đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, chính xác hơn về bản thân tư duy đang nhận thức. Chính quá trình hiểu biết ấy là cơ sở tạo ra sự phát triển của logic học. Các quy luật của tư duy logic là phổ biến cho toàn nhân loại. Dĩ nhiên, sản phẩm tư duy của người này thì khác người kia, về cùng một phán đoán nhưng có người đúng và có người sai, cái đó lại phụ thuộc vào các điều kiện khác.

Sự phát triển của tư duy logic

Theo truyền thống, logic được nghiên cứu như là một nhánh của triết học. Kể từ giữa thế kỉ 19, logic đã thường được nghiên cứu trong toán học và luật.

Ngày nay, dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, logic học (hình thức) phát triển hết sức mạnh mẽ dẫn đến sự hình thành một loạt các bộ môn logic học hiện đại, như logic học mệnh đề, logic học vị từ, logic học đa trị, logic học tình thái, logic học xác suất, v.v.. Các bộ môn đó cung cấp cho nhân loại những công cụ sắc bén giúp tư duy con người ngày càng đi sâu hơn vào nhận thức các bí mật của thế giới khách quan.

Sự ra đời của logic học hiện đại tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của khoa học và công nghệ. Điều này là hoàn toàn rõ ràng và thể hiện rõ nét nhất trong lĩnh vực công nghệ hiện đại. Logic học hiện đại đã cung cấp cho nhân loại những công cụ để xây dựng các bộ điều khiển, từ đó xây dựng nên các công nghệ tự động hoá. Nó cũng cung cấp các phương tiện logic cho việc chế tạo máy tính điện tử. Gần đây nhất logic được áp dụng vào khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo.

Chính vì vậy, có thể nói rằng, không có logic học hiện đại thì khó có khoa học hiện đại phát triển như ngày nay. Hơn thế nữa, các hệ thống logic phi cổ điển (tình thái, đa trị, xác suất, v.v.) cũng trang bị cho nhân loại những phương tiện logic để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn “cái biện chứng” khách quan bằng các công cụ chính xác. 

Các phương pháp rèn luyện kỹ năng tư duy logic

- Đọc sách: Đọc sách chính là cách để rèn luyện kĩ năng nhận thức và tăng cường vốn từ vựng của bạn. Chọn sách văn học, khoa học hay những quyển sách nâng cao tính chuyên môn nghề nghiệp để đọc, sẽ giúp bộ não của bạn hoạt động tích cực hơn.

- Tham gia một khoá học: Hãy học một điều gì đó mới mẻ, chẳng hạn như đăng kí tham gia lớp nấu ăn, cắm hoa hay hội hoạ, v.v…Bản thân bạn sẽ gặp những thách thức vì phải hấp thụ những khái niệm, những thông tin và ý tưởng mới, và giữ lại những kĩ năng cần thiết suốt quá trình ghi nhớ của bộ não.

- Học ngoại ngữ: Bạn nên biết rằng học ngoại ngữ chính là cách để bộ óc của bạn linh hoạt, suy nghĩ được nhạy bén, giúp rút ngắn tính chậm chạp của quá trình suy nghĩ lão hoá theo tuổi tác. Mặt khác, còn giúp bạn giao tiếp với người nước ngoài dễ dàng hơn.

- Chơi game: Rủ bạn bè tham gia một trò chơi, chẳng hạn như chơi cờ… Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội cũng giúp trí óc bạn linh hoạt hơn. Vì khi đó, bạn sẽ phải vận dụng trí nhớ và các kĩ năng tư duy logic của mình.

- Chơi ô chữ: sẽ giúp bạn trau dồi những kinh nghiệm, hiểu biết và củng cố lượng từ vựng của bạn.

- Tranh luận: Một cuộc thảo luận sẽ làm tinh thần bạn thêm hăng hái. Miễn là bạn cố gắng đừng đi lạc đề thành một cuộc cãi vã, bạn sẽ rèn luyện được lối tư duy nhanh, sắc sảo, logic và sáng tạo.

Ở trên đây là một số phương pháp mà Hiếu Học đã tổng hợp để giúp bạn có thể rèn luyện và phát triển khả năng tư duy. Chúc các bạn sẽ làm ra được nhiều "chìa khóa" để tự tin mở mọi cánh cửa thành công trong cuộc sống.

Sưu tầm

Sự kỳ diệu của não bộ con người


Não bộ của con người là một tổ chức phức tạp, tinh vi nhất của hệ thần kinh. Thông qua các giác quan như mắt, tai, da, bộ não tiếp thu các thông tin về thị giác, thính giác, xúc giác... để từ đó nhận thức ra đối tượng, xử lý và giai đáp thông tin qua các hình thức vận động.

Sự phát triển của não

Ngay từ ngày thứ 18 của phôi đã có mầm mống của não, khi phôi được 3 tháng tuổi thì não đã có đủ các thành phần.

Khi mới sinh, não nặng khoảng 300g và khi 1 tuổi khoảng 800g. Não tăng trọng lượng rất nhanh cho tới 2 tuổi, tăng chậm hơn khi 20-25 tuổi và dừng lại khi 65 tuổi, sau đó - cũng như tất cả các cơ quan khác của cơ thể - trọng lượng của não giảm dần do mất nước. Trọng lượng trung bình của não là 1.370g.

Mô tả

Bộ não, còn gọi là não bán cầu nằm trong hộp sọ ở trên lều tiểu não.
Não bán cầu bao gồm vỏ não và các tổ chức dưới vỏ.

a/ Vỏ não được các rãnh não chia thành các thùy gồm: thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm và thùy thái dương.

Các rãnh nhỏ chia các thùy thành các hồi, thí dụ hồi thứ nhất trán (F1).
Thùy trán chiếm tới 40% khối lượng não

b/ Các tổ chức dưới vỏ - các nhân xám trung ương.

Các chức năng của bộ não

Do đặc điểm cấu tạo của vỏ não (chất xám và chất trắng) nên có những diện chức năng về cảm giác, giác quan và vận động.

Chức năng về giác quan:

Nhìn: Thông qua mắt, các đường dẫn truyền thị giác đưa hình ảnh lên vùng chẩm của não. Từ đó các kích thích thị giác được bộ não phân tích (hình dạng), đánh giá (so sánh) và lưu trữ (ghi nhớ).

Nghe: Thông qua đôi tai, các đường dẫn truyền thính giác đưa âm thanh lên não ở vùng thái dương, từ đó não phân tích (loại âm), đánh giá (so sánh) và lưu trữ (ghi nhớ).

Chức năng nghe là một trong những giác quan được phát triển ngay từ trong bào thai. Trong bụng mẹ, bào thai đã có thể nghe được âm nhạc, vì vậy người ta có phương pháp dạy trẻ bằng cách cho nghe nhạc cổ điển ngay từ khi còn là bào thai.

Tiếp thu các loại cảm giác: Thông qua bộ não, con người có thể tiếp thu các loại cảm giác, đặc biệt là cảm giác nhận biết đồ vật...

Thể hiện các động tác: Chức năng giải đáp là chức năng cơ bản thứ hai của não. Biểu hiện giải đáp là các hình thức vận động. Vận động tự chủ qua đường bó tháp, vận động phối hợp (hệ tiểu não - tiền đình) và vận động tự động (các nhân xám trung ương).

Các nhân xám trung ương có chức năng biểu thị dáng điệu, động tác, vẻ mặt... Tất cả nhằm điều chỉnh trương lực và điều hòa cử động...

Ngoài chức năng cơ bản là tiếp thu và giải đáp, não bộ còn làm phong phú hoạt động con người qua các quá trình tâm lý, tư duy, trí nhớ, lời nói, chữ viết... Đó là chức năng cao cấp của vỏ não. Những chức năng này thực hiện được nhờ sự hoạt động của toàn vỏ não, đặc biệt là ở thùy trán, thùy thái dương, thùy đỉnh, thùy chẩm, khứu não...

Bộ não giữ vai trò quan trọng trong hoạt động toàn diện, đa dạng của con người, giúp con người thích ứng với các hoàn cảnh xã hội. Do đó nhiều chuyên ngành khoa học tự nhiên và xã hội đã xây dựng các chiến lược bảo vệ và phát triển bộ não.

Theo Sức khỏe và Đời sống

9 khả năng phi thường của bộ não con người




 1. Siêu vị giác

Những người có vị giác ở cường độ rất mạnh gọi là siêu vị giác. Việc có thêm các nhú gai hình nấm trên lưỡi (thực chất là những khối u hình nấm được bao phủ bởi các chồi vị giác) được cho là nguyên nhân tại sao những người này lại có cường độ vị giác mạnh như vậy. Trong số năm loại vị giác ngọt, mặn, đắng, chua và đậm đà, một người sở hữu siêu vị giác thông thường sẽ  thấy vị đắng là dễ cảm nhận nhất.
Các nhà khoa học lần đầu tiên ghi nhận  những khả năng nếm khác nhau của con người khi một nhà hóa học tên Arthur Fox yêu cầu mọi người nếm một hợp chất có tên gọi là PTC (Phenylthiocarbamide). Một vài người cảm nhận được vị đắng, một số người thì không-tùy thuộc vào cấu tạo gen di truyền (biến thể của bài kiểm tra này hiện là một trong những bài kiểm tra gen di truyền phổ biến nhất trên con người). Trong khi có khoảng 70% số người có thể nếm được PTC, hai phần ba trong số họ có vị giác trung bình; còn lại một phần ba là siêu vị giác.
Những người siêu vị giác thường không thích một số thức ăn nhất định, đặc biệt là thức ăn có vị đắng như là bắp cải, sup lơ, cà phê và nho. Những người có siêu vị giác thường là phụ nữ, người châu Á và châu Phi.

2. Âm cảm tuyệt đối

Những người âm cảm tuyệt đối có khả năng xác định và tái tạo một âm thanh mà không cần phải có một tham chiếu nào. Đó không đơn giản chỉ là khả năng nghe tốt mà là khả năng phân loại âm thanh và lưu chúng thành danh mục trong vào bộ nhớ. Một số ví dụ về khả năng này là xác định cao độ của tiếng ồn hằng ngày (còi xe, còi tầm, động cơ…); hát một nốt nhạc không cần nghe mẫu, gọi tên âm thanh phát ra của dây đàn… Làm được điều này đòi hỏi một hoạt động nhận thức – yêu cầu một người ghi nhớ tần suất của mỗi âm thanh, đặt tên và biết hết dãy âm thanh đã đặt tên. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc liệu âm cảm tuyệt đối là khả năng có được do di truyền hay là do học hỏi mà có.
Ước tính ở châu Âu có khoảng 3% dân số có âm cảm tuyệt đối và khoảng 8% số người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp có âm cảm tuyệt đối. Tuy nhiên, trong các học viện âm nhạc ở Nhật Bản, khoảng 70% nhạc sĩ có âm cảm tuyệt đối. Một phần lý do cho sự chênh lệch này có lẽ là do âm cảm tuyệt đối phổ biến ở những khu vực có ngữ âm đa dạng, lên bổng xuống trầm (Quảng Đông, Quan Thoại, Việt Nam, Nhật Bản… ) Rất nhiều người mù bẩm sinh, người mắc hội chứng William, người mắc bệnh tự kỷ cũng có khả năng này.

3. Tetrachromacy

Tetrachromacy là khả năng nhìn thấy ánh sáng từ bốn nguồn nhất định. Một ví dụ của trường hợp này trong thế giới loài vật là loài cá ngựa vằn (Danio rerio). Chúng có thể nhìn thấy ánh sáng từ các phân khúc đỏ, xanh lá, xanh dương và cực tím trong phổ ánh sáng. Khả năng này ở người là cực kỳ hiếm. Theo Wikipedia, hiện tại chỉ có hai người được xác nhận là có khả năng này.

Thông thường con ngưởi có ba loại tế bào hình nón cảm thụ một trong ba loại ánh sáng đỏ, xanh, xanh lá trong quang phổ. Mỗi loại tế bào có thể nhận khoảng 100 thang độ màu sắc. Não bộ kết hợp màu sắc và thang độ để con người có thể phân biệt khoảng  một triệu màu sắc trên thế giới. Một người có khả năng tetrachromacy thực sự với thêm một tế bào cảm thụ màu sắc, về mặt lý thuyết có thể phân biệt khoảng một trăm triệu màu sắc.
Tương tự như siêu vị giác, khả năng tetrachromacy phổ biến ở phụ nữ hơn nam giới.

4. Định vị bằng âm thanh

Trong tự nhiên, loài dơi được biết đến như một loài động vật có thính giác phát triển tốt nhất. Dơi hoạt động về đêm, dùng âm thanh và tiếng vọng của âm thanh để định vị. Khả năng này cũng phát triển ở một số người.
Chúng ta từng biết loài dơi thường bay lòng vòng trong các khu rừng tối tăm, chúng phát ra âm thanh và chờ âm thanh vọng về, sử dụng mỗi tai để nghe những âm thanh đó kết hợp với thời gian âm thanh vọng về để xác định vị trí và khoảng cách đến đối tượng hướng tới. Thật đáng ngạc nhiên là khả năng đặc biệt này cũng xuất hiện ở người. Việc phát triển khả năng này có thể là bởi người đó bị mất đi thị giác đã phải trải qua một thời gian đủ dài để làm chủ và có được sự nhạy cảm cao với âm thanh phản xạ.
Để định vị thông qua tiếng vang, người đó sẽ tạo ra âm thanh và xác định những tiếng vang đó từ đâu vọng lại để nhận biết vị trí đối tượng xung quanh họ. Người có khả năng định vị bằng âm thanh sẽ biết được vị trí, kích cỡ và mật độ của đối tượng.
Vì con người không thể tạo hoặc nghe thấy những âm thanh ở tần số cao hơn như loài dơi hay cá heo, nên chỉ có thể nhận biết được những đối tượng có kích thước lớn hơn so với những thứ bé nhỏ mà hai loài động vật trên có thể cảm thấy.

5. Genetic Chimerism – Hội chứng gen lạ

Các nhà sử học người Hy Lạp đã chứng minh rằng "nhân mã" - nhân vật có đầu người, mình ngựa - thật sự đã từng tồn tại.
Sử thi Iliad có mô tả quái vật Chimera với đuôi rắn, mình dê, đầu sư tử; Chimera cũng trở thành tên gọi cho một hiện tượng di truyền học là genetic chimerism hay tetragametism. Hiện tượng này xảy ra ở người hay động vật khi hai trứng được thụ thai hoặc phôi thai kết hợp cùng nhau trong thời kì đầu của thai kì. Mỗi hợp tử mang một bản sao ADN của bố mẹ, vì vậy hợp tử mới có một bộ gen khác biệt. Về cơ bản, đứa trẻ sinh ra là song sinh của chính nó. 

Phác hoạ bộ xương nhân mã trên X-quang.
Chimerism rất hiếm ở người và nhân mã là một trong những trường hợp hiếm hoi được ghi nhận.
Chimerism ở người rất hiếm. Trong các thử nghiệm ADN nhằm xác định con ruột của bố mẹ đã phát hiện trường hợp Chimerism khi đứa trẻ không có liên hệ sinh học với người mẹ - nó mang một ADN khác. Lydia Fairchild là một trường hợp điển hình đã sinh ra một chimera. Người mẹ trẻ ở bang Washington đã phải đấu tranh với tòa án để giữ đứa bé mà cô mang nặng đẻ đau vì theo xét nghiệm nó không phải là con ruột cô.

6. Chứng loạn cảm giác (Synesthesia)

Hình dung không ngừng về sự liên kết giữa những con số và chữ cái với màu sắc nhất định hoặc nghe một từ nào đây lại gây ra vị giác ở lưỡi. Đây là 2 dạng của một bệnh thần kinh gọi là loạn cảm giác. Loạn cảm giác là khi kích thích lên một giác quan lại dẫn đến phản ứng vô thức của một giác quan khác. 
Chứng bệnh này chủ yếu do di truyền và dạng loạn các kí tự với màu sắc là phổ biển nhất. Các trường hợp loạn cảm giác khác có thể gây ra những sự phối hợp đặc biệt như ngày tháng có một vị trí chính xác về không gian, những con số có tính cách, âm thanh được nhận thức cùng với màu sắc… 
Mặc dù loạn cảm giác là một chứng bệnh thần kinh nhưng đáng lý không nên xem như rối loạn vì nhìn chung nó không ảnh hưởng đến khả năng của con người. Phần lớn những người loạn cảm giác thậm chí không nhận ra rằng những gì họ cảm nhận về cuộc sống phong phú hơn những người bình thường. Hiếm có ai xem loạn cảm giác có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của họ. 
Ước đoán về tỉ lệ người bị loạn cảm giác rất khác nhau, từ 1 trong 20 người đến 1 trong 20.000 người. Những nghiên cứu từ năm 2005 – 2006 với mẫu ngẫu nhiên cho thấy cứ 23 người thì có một người bị loạn cảm giác. Những ví dụ về người loạn cảm giác có tác giả Vladimir Nabokov, nhà soạn nhạc Olivier Messiaen và nhà khoa học Richard Feynman. Daniel Tammet (được đề cập trong phần tiếp theo) cũng là một người loạn cảm giác, ông thấy những con số với hình dạng và kết cấu. 

7. Bộ óc máy tính

Nhóm người kì lạ nhất thông thạo những tính toán phức tạp trong đầu là những nhà bác học mắc chứng tự kỉ. 
Có nhiều người được rèn luyện có thể thực hiện những tính toán phức tạp cực nhanh trong đầu họ như các nhà toán học, nhà văn, họa sĩ… nhưng khả năng bẩm sinh của những bác học tự kỉ là đáng quan tâm nhất. Phần lớn họ sinh ra mắc chứng tự kỉ, chậm hiểu, chậm phát triển, thường do chấn thương đầu. 
Nghiên cứu gần đây cho thấy ở những người có khả năng tính toán siêu phàm thì lượng máu chảy lên phần não về tính toán nhiều gấp 6 – 7 lần so với người bình thường. Ví dụ về những người có khả năng này là Daniel McCartney, Solo Finkelstein, Alexander Aitken và Daniel Tammet. 

8. Nhớ chính xác những hình ảnh thị giác (Eidetic Memory)

Khi một người có vùng lưu giữ hình ảnh hay nhớ từng chi tiết chính xác, họ có khả năng nhớ chính xác các hình ảnh thị giác. Những ví dụ về khả năng này là Akira Haraguchi, người đã kể lại từ trí nhớ mình 100.000 chữ số thập phân của số pi hay Stephen Wiltshire, người đã vẽ lại toàn bộ thành Rome sau một chuyến bay quan sát. Kim Peek cũng trở thành hình mẫu cho nhân vật Raymon Babbit trong phim Rainman khi có khả năng nhớ 12.000 cuốn sách.

9.    Các tế bào bất tử 

Tế bào bất tử nghĩa là những tế bào có thể phân chia độc lập bên ngoài cơ thể người; chỉ có duy nhất trường hợp người có tế bào bất tử được biết đến, đó là một phụ nữ tên Henrietta Lacks. Năm 1951, lúc đó Henrietta Lacks 31 tuổi, bà bị ung thư cổ và sẽ chết trong vài năm. Không được sự cho phép của bà và gia đình nhưng một bác sĩ phẫu thuật đã lấy mẫu mô từ khối u và chuyển qua cho TS George Gey. Nhà khoa học từ phòng thí nghiệm cấy mô của ĐH John Hopkins đã nhân bản mẫu mô của Lack thành dòng tế bào bất tử gọi là dòng tế bào HeLa. 
Những tế bào từ khối u của Lack có một kiểu enzyme telomerase tích cực. Đây là enzyme có cơ chế làm cho tế bào già đi. Những tế bào này nảy nở nhanh bất thường. Ngày Henriette Lack qua đời cũng là ngày mà TS Gey tuyên bố với thế giới rằng một kỷ nguyên mới của y học đã bắt đầu – về một thứ có thể điều trị ung thư.
Tế bào HeLa được Jonas Salk sử dụng vào năm 1954 để phát triển phương pháp điều trị bệnh bại liệt ở trẻ em. Từ sau đó, tế bào HeLa được dùng trong nghiên cứu ung thư, AIDS, ảnh hưởng của phóng xạ và chất độc, bản đồ gen… 
Ngày nay, tế bào HeLa quá phổ biến trong phòng thí nghiệm đến mức chúng nhiễm sáng các mẻ cấy tế bào khác và khiến một số nghiên cứu sinh học bị vô hiệu vì hiện diện của tế bào này. Ngày nay tế bào HeLa sống còn nhiều hơn cả thời Henrietta Lacks còn sống – tổng khối lượng của chúng lớn hơn nhiều lần so với trọng lượng cơ thể Henrietta Lacks. Đáng tiếc, phải rất nhiều năm sau khi Lacks qua đời, sự đóng góp lớn lao của bà cho khoa học mới được công nhận chính thức.
Theo Listverse