Bí quyết tối ưu hóa tiềm năng của bạn

Bạn có đang làm tất cả để vận dụng hết những khả năng của mình. Bạn có thể thẳng thắn không chút do dự cho rằng mình yêu thích công việc hiện nay và thật không ngờ mình được tưởng thưởng đến thế.

Nếu bạn cũng là người như đa số mọi người, chắc chắn bạn mong muốn sự thành công, tạo lập một cuộc sống tuyệt vời và gặt hái những phần thưởng trong cuộc đời. Tóm lại, bạn mong ước một cuộc sống phồn vinh. Và vì thế, bạn phải sống và cống hiến hết mình để hiện thực hoá ước mơ đó.
Đó cũng là lý do vì sao, với rất nhiều người, kể cả những nhà quản trị quyền lực, câu trả lời của họ cho một và thậm chí là cả hai câu hói trên là "không". Điều này có liên quan gì với việc bạn không mang hết khả năng sẵn có của mình vào công việc hay tệ hơn là bạn đang làm công việc mà mình không hề yêu thích?

Tìm ra lĩnh vực sở trường của bạn
Hãy nghĩ về điều này: Có phải mọi kế toán đều có lòng say mê vô hạn với các con số? Có lẽ là không. Một số người thực ra chỉ là nạn nhân của những bậc cha mẹ không ưa con mình theo nghiệp nghệ thuật, hoặc của những sức ép khách quan tuân theo một thể thức định sẵn, bảo đảm hơn, đáng tin hơn.

Bạn chỉ cần nhớ ráng lý do để Tiger Woods thành công như vậy là bởi ông đã dành cả đời mình biến đam mê tuổi nhỏ thành một sự nghiệp chuyên môn phát đạt.

Quan niệm rõ ràng về thành công
Dù là vì lý do gì, khá nhiều người thoả mãn được những ước mong thầm kín và thiên hướng ẩn giàu trong họ trong những sự nghiệp được xã hội chấp nhận cao, tin tưởng rằng một năng lực ưu tú và vòng quay tiền mặt ổn định là đủ cho một người mãn nguyện.
Tất nhiên, bạn cũng có thể nghe rất nhiều lời chứng thực từ lớp người này cho ráng họ hạnh phúc. Bởi rốt cuộc họ có rất nhiều tiền và một cuộc sống tiện nghi chưng diện đầy thú vị.
Nhưng những con người đó có thực sự hài lòng. Họ dã là tất cả những gì mình có thể chưa, hay họ chỉ tin vào một niềm tin vô hạn là thành công được đánh giá hởi độ dày của chiếc ví? Tưởng tượng xem bạn sẽ tiến bao xa khi theo đuổi một điều gì bạn thực sự có khả năng? Nắm bắt được đúng những tài năng của mình và hiện thực hoá những tiềm nang đó, bạn sẽ bay lên những tầm cao mới.

Bạn thực sự giỏi lĩnh vực nào?
Tên Turner, nhân vật quyền lực của giới truyền thông. CEO của Turner Broadcastlng System, có thể được xem là tấm gương mẫu mực cho việc làm thế nào để tận dụng hết khả năng của bạn.
Ông nhận thấy cơ hội của mình và lấy đó đế hiện thực hoá ước mơ mang cá thế giới lại với nhau qua con đường viễn thông. Với bản năng sắc bén và lương tri kinh doanh, ông đã làm tất cả những gì cần thiết để đi tới thành công.

Nhưng quyết định theo nghiệp media của ông không phải chuyện chơi. Ông đã rõ điểm mạnh của mình là gì, biết mình đam mê cái gì và khôn ngoan xây dựng cho mình một sự nghiệp trên những điều đó, để trở thành một tỷ phú trong quá trình này. Và đó cũng là thông điệp trong bài viết này: Bạn cần khám phá lại xem những đam mê và năng lực thiên bẩm của bạn là gì và đưa chúng lên những cấp độ thành công cao hơn.

5 bước đơn giản dưới đây nhằm biến những mơ ước của bạn thành hiên thực.

1. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu
Một cách tuyệt vời để bắt đầu việc này là xác định xem đâu là những kỹ năng trời phú cho bạn, và đâu là những năng lực bạn có học mãi cũng không xong. Làm một danh sách những điểm mạnh và điểm yếu bạn sẽ rất có ích, bởi bạn sẽ dễ dàng nhìn nhận mình hơn khi đã viết được chúng ra.
Hãy tự hỏi mình những câu hỏi thẳng thắn: Cái ý nghĩ rằng mình sẽ đi làm vào buổi sáng làm bạn phải khom mình? Bạn có đang là tất cả những gì mình có thể? Bạn có đang làm cái mà bạn cho là vì những lý do đúng? Còn điều gì khác bạn rất mong đạt được trong cuộc đời mình?
Nếu bạn luôn luôn quan tâm đến thị trường nhà đất mà chưa bao giờ theo đuổi nó thì ban còn chờ đợi gì nữa? Chọn được con đường sự nghiệp đúng là đi theo lĩnh vực mà bạn giỏi giang chứ không phải những gì bạn nghĩ mình nên làm.
Bạn cũng có thể rút kinh nghiệm từ quá khứ và thử lấy ý kiến từ những người xung quanh xem sao, bởi những người biết ro bạn có thể cung cấp cho bạn một cái nhìn thấu đáo và năng lực thực sự của bạn.
Trên tất cả, hạn không được do dự. Hãy thẳng thắn và thậm chí tàn nhẫn chừng nào bạn cần là chính mình. Bởi, cuối cùng thì đây là tương lai của bạn kia mà.

2. Khởi xướng
Khi đã hình dung được những gì cần làm cũng là lúc cho bạn thực hiện bước đầu tiên quan trọng. Hãy viết ra kế hoạch hành động của mình, đặc biệt lưu ý bạn định đạt đến mục tiêu hạnh phúc tiềm nang đó như thế nào. Hãy cho mình một khung thời gian nghiêm ngặt nhưng hợp lý, và nghiêm chỉnh tuân theo.
Đừng sợ lại phải bắt đầu một sự nghiệp mới, một nơi chốn mới hay bị cắt lương. Như lời một ca sĩ thông thái: “Cuộc đời là một hành trình, không phải một đích đến ".
Hãy làm tốt kế hoạch của mình và liên hệ với những ai có thể giúp bạn.

3. Thực thi kế hoạch
Đúng là với một người vững vàng về kinh tế, việc bỏ dở giữa chừng một công việc sẽ không là vấn đề gì lắm. Nhưng bắt đầu lại tất cả dường như quá mạo hiểm với nhiều người, đặc biệt là những ai phía sau còn cả một gia đình cần cung cấp Sự khởi đầu lại vì vậy không phải là một con đường êm ái, ít nhiều sẽ có những chướng ngại, thất vọng kéo theo. Nhưng từ bỏ việc đó nghĩa là bạn sẽ tước đi của mình cơ hội có được thành công cùng sự mãn nguyện cao hơn. Vì thế, hãy cố gắng tập trung và tiếp tục con đường cửa bạn, nếu không tận lâm cho bất cứ việc gì, kể như bạn làm điều đó chỉ mất công. Dù con đường đó có gian nan đến đâu, bạn hãy nhớ phía cuối đường hầm là ánh sáng.

4. Tận dụng những nguồn lực sẵn có
Hãy gặp gỡ những người thành công trong lĩnh vực bạn đang theo đuổi hỏi xin họ lời khuyên. Ghi chú lại những lần liên hệ này, chúng có thể rất có ích với ban, và nhớ là luôn có bên mình những con người có nhiều ảnh hưởng. Ví dụ, nếu bạn đang nhằm vào ngành luật, thì cô kế toán viên của bạn có thể biết một luật sư giỏi có thể giúp bạn.
Và tất nhiên, không ai khuyên bạn làm tất cả những chuyện này một mình Trong một thế giới cạnh tranh như hiện nay, bạn tận dụng được càng nhiều sự giúp đỡ càng tốt và hãy dẹp lòng kiêu hãnh của mình lại. Bởi lòng kiêu hãnh chính là chỗ nương thân cho sự bấp bênh.

5. Luôn có một hệ thống hỗ trợ bên mình
Hãy tạo cho mình một mạng lưới những người có thể hướng dẫn, dạy bảo và hỗ trợ bạn những khi cần thiết cả về luân lý lẫn tài chính. Đó có thể là vị sếp cũ người thầy thông thái hay ông bố già tốt bụng.
Bạn cũng có thể có bên mình một người bạn cùng hội cùng thuyền, và việc biết rằng mình không cô độc sẽ đỡ đi phần nào gánh nạng trên vai bạn cho một đối thay hoàn toàn như thế này.
Và lòng tự tin cũng là một yếu lố không thể thiếu. Cho dù bạn có là CEO của một tập đoàn khổng lồ, những động cơ cho con đường sự nghiệp bạn chọn cũng có thế thấy qua lối cư xử của bạn. Nếu thực sự hài lòng với công việc của mình sẽ khiến bạn trở nên một con người tích cực hơn nhiều, và khiến những người xung quanh chắc chắn sẽ lấy đó làm học tập.
Để thực sự thành công, bạn phải tận dụng được những khả năng của bản thân để tìm cho mình một địa vị tốt trong xã hội. Những gì thuộc về bạn là điều quan trọng duy nhất để xem xét khả năng thành đạt của bạn Cuối cùng: Nếu bạn muốn có được những phần thưởng lớn, bạn phải dám đón nhận những rủi ro cao. Sau đó, bạn có thể có tất cá, hay ít ra cũng là một điều gần như thế.

Những thực phẩm làm giảm trí nhớ nhanh chóng [Giảm trí nhớ]


Muốn giữ được đầu óc minh mẫn và duy trì trí nhớ, hãy thận trọng và hạn chế ăn những loại thực phẩm sau đây.Những thói quen tốt nhất cho não bộHạt hướng dương chứa chất gây teo nãoHàng loạt món ăn vặt dính chất độc gây teo não
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thói quen ăn uống có liên quan mật thiết tới “sức khỏe” của não bộ. Bên cạnh những thực phẩm có lợi cho sức khỏe não bộ thì cũng có những thực phẩm khiến trí nhớ của bạn sa sút nhanh chóng.

1. Đồ ăn có vị chua

Thực phẩm có vị chua như chanh, dưa muối… chứa nhiều vitamin C giúp tăng cường sức đề kháng. Tuy nhiên, ăn quá nhiều đồ chua lại làm mất cân bằng độ pH trong cơ thể, từ đó ảnh hưởng tới chức năng của não bộ, gây mất tập trung và suy giảm trí nhớ.

Hãy biết cách cân bằng độ pH trong cơ thể để bảo vệ sức khỏe cho não bộ qua việc kết hợp hợp lý các thực phẩm chứa axit và kiềm trong bữa ăn hàng ngày.

2. Đồ ăn chứa nhiều cholesterol

Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, khẩu phần ắn chứa chất béo và cholesterol cao có liên quan chặt chẽ đến tổn thương của hệ thần kinh trung ương.

Do lượng mỡ tích tụ dần vào thành mạch, những khẩu phần ăn chứa cholesterol có thể hạn chế oxy lên não, lâu dài sẽ gây tổn thương các nơ-ron thần kinh, làm giảm trí nhớ.

3. Đồ ăn nhiều muối

Muối không thể thiếu cho các món ăn cũng như sức khỏe cơ thể. Tuy nhiên, lạm dụng quá nhiều muối trong các món ăn lại là cách nhanh nhất làm tổn thương não bộ.

Hàm lượng muối natri dư thừa trong thời gian dài sẽ tích tụ trong cơ thể, làm cản trở quá trình lưu thông máu lên não. Các tế bào não không được bổ sung oxy đầy đủ sẽ dễ bị lão hóa khiến bạn nhận thức chậm và nhanh quên.

4. Đồ uống có cồn

Rượu bia và các đồ uống có cồn là kẻ thù số 1 của bộ não bởi thành phần các chất kích thích và gây nghiện có trong rượu bia khi bị tích tụ lâu ngày có thể ức chế hoặc tê liệt hoạt động của các tế bào não.

Nhiều nghiên cứu còn chỉ ra rằng, những người nghiện rượu thường có kích thích não bộ nhỏ hơn và khả năng ghi nhớ kém hơn hẳn so với những người không uống rượu. Một lượng rượu bia vừa phải mỗi ngày là chất “kích thích” não bộ nhưng quá nhiều lại gây những tổn thương trầm trọng.

5. Thực phẩm chiên, rán

Ở nhiệt độ cao, thực phẩm thường sản sinh hàm lượng các chất oxy hóa cao. Các chất oxy hóa này có thể “làm hỏng” hoặc làm rối loạn hệ thống trao đổi chất trong cơ thể, từ đó thúc đẩy quá trình lão hóa tế bào, trong đó có các tế bào hại não, gây giảm trí nhớ.

6. Đường

Đường tinh chế khi ăn quá nhiều, cơ thể không hấp thu hết sẽ tạo thành các chất có hại cho cơ thể. Ăn thức ăn có hàm lượng fructose cao trong thời gian dài gây tác hại đến khả năng tiếp nhận và ghi nhớ thông tin của não.

Các loại hoa quả ngọt chứa đường tự nhiên, ít gây hại cho cơ thể. Hoặc nếu bạn là tín đồ của các loại bánh kẹo ngọt thì đừng quên bổ sung omega-3 vào các bữa ăn vì omega-3 tạo “lá chắn” giúp giảm thiểu tác hại của đường tới các tế bào não.

7. Thực phẩm nhiễm độc

Thịt cá, rau quả chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ sâu quá mức cho phép cũng là kẻ thù của não bộ.

Các chất độc hóa học tích tụ lâu ngày trong cơ thể có thể gây ra nhiều bệnh ung thư nguy hiểm hoặc làm suy giảm trí nhớ ngay cả ở những người trẻ tuổi.

[Theo: afamily]

Những thói quen tốt nhất cho não bộ [Tăng cường sức khỏe cho bộ não]


Cách dễ nhất để cải thiện sức mạnh bộ não giúp bạn luôn sáng suốt trong nhận thức sự việc là hãy tạo cho mình một số thói quen lành mạnh.

Bạn muốn có trí nhớ tốt hơn, có sự sáng tạo hơn hoặc có khả năng giải quyết vấn đề một cách dễ dàng hơn...? Làm thế nào để có thể đạt được tất cả điều này? Rất đơn giản, chỉ cần thực hiện các thói quen sinh hoạt lành mạnh hàng ngày, chắc chắn sức mạnh tinh thần của bạn sẽ được cải thiện.

1. Không ngừng học hỏi

2. Những thói quen lành mạnh mà bạn cần tuân thủ:

- Ngủ tốt

Giấc ngủ vô cùng quan trọng đối với toàn bộ cơ thể của bạn. Một giấc ngủ tốt sẽ giúp cho một bộ não khỏe mạnh.

Bạn nghĩ rằng mình chỉ cần ngủ 4-5 giờ mỗi ngày là đủ, vì bạn cần nhiều thời gian để làm các việc khác hơn là ngủ. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ bạn muốn ngủ bao lâu mà là: thời gian ngủ phải đủ vì nó cần cho nhu cầu não và cơ thể của bạn.

Bạn cần bao nhiêu giờ để ngủ mỗi đêm? Thời gian ngủ phụ thuộc vào hoạt động và cuộc sống của bạn. Một số người có thể ngủ 6 giờ và cảm thấy đã khỏe khoắn trở lại trong khi một số người cần ngủ 9 giờ mỗi ngày mới đủ.

Tuy nhiên, ngủ nhiều hơn 9 giờ và ít hơn 6 giờ mỗi ngày lại không tốt cho sức khỏe của bất kì ai. Sở dĩ, con người cần ngủ là vì, trong lúc ngủ, toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi để tái tạo năng lượng và sửa chữa những hư hỏng của các tế bào cũng như giúp các cơ quan thực hiện tốt các chức năng.

Thiếu ngủ sẽ làm cho các tế bào não yếu đi và có thể bị "tiêu diệt", từ đó làm suy giảm "sức mạnh" của não bộ.


- Ăn thức ăn tốt cho não

Một chế độ ăn uống tốt không có nghĩa là bạn đã cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho não của bạn. Bạn có chắc chắn rằng bạn ăn đủ thức ăn giúp tăng sức mạnh tinh thần của mình? Thực tế, có thể bạn có cơ thể rất khỏe mạnh, mức độ cholesterol thấp, nhưng bộ não của bạn vẫn có thể bị "chết đói".

Thực phẩm được coi là tốt nhất cho bộ não là axit béo omega-3. Axit béo omega-3 có nhiều trong các loại thực phẩm như quả óc chó, đậu nành, cá hồi, cá ngừ và các thực phẩm khác... Có thể bạn chưa có thói quen ăn các loại thực phẩm này hàng ngày, nhưng hãy chọn chúng làm món ăn vặt tại nơi làm việc để bổ sung loại axit béo có lợi cho não bộ này.

Ngoài ra, cố gắng tránh chất béo bão hòa và thực phẩm nhiều calo bởi chúng có hại cho bộ não của bạn và làm giảm chức năng hoạt động tốt của não bộ.

Đây là một thói quen bắt não của bạn liên tục phải tư duy, sáng tạo và tìm tòi, học hỏi những cái mới. Điều này không những giúp bạn luôn năng động mà còn giúp bạn tự tin, nhạy bén trong nhận thức. Mặt khác nó làm tăng sức mạnh tinh thần của bạn vì não bộ liên tục hoạt động.

Không quan trọng việc bạn học hỏi như thế nào, bạn có thể đọc sách hoặc xem tivi, khám phá, trò chuyện với ai đó... Hãy tập cách không giới hạn suy nghĩ của mình và tăng trí tưởng tượng để có được những thông tin mới.

[Theo: afamily]

TRÍ TUỆ trong ĐẠO PHẬT


Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ.

Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi?

Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác? Nói một cách khác, có thểnào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật?

Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn làđạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, là người có trí tuệ vẹn toàn.

Như vậy có thểnói rằng trí tuệ mới chính thực là đặc điểm, là nền tảng, là cốt tủy của đạo Phật.

Trí tuệ là gì ?

Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ trí tuệ trong đạo Phật là gì, bởi vì trí tuệ có một ý nghĩa rất đặc biệt trong đạo Phật. Trí tuệ trong đạo Phật phải được phân biệt với quan niệm thông thường về trí tuệ.

Theo nghĩa thông thường, trí tuệ là kết quả của hoạt động trí thức (intellect), dựa lên lý trí (raison), dùng đến lý luận, khái niệm, ngôn từ, và chủ yếu gồm những sự hiểu biết, những kiến thức đã được gom góp lại.

Trong đạo Phật, trí tuệ cũng được gọi là trí huệ, bởi vì cùng một chữ Hán có thể đọc là huệ hay là tuệ. Người Hoa thường đọc là huệ (tiếng quan hỏa đọc là “huậy”), trong khi người Việt hay dùng chữ tuệ hơn, với đa số những chữ ghép thuộc danh từ nhà Phật, như tuệ căn, tuệ giác, tuệ kiếm, tuệ lực, tuệ nhãn, tuệ tâm, tuệ tánh… Tiếng Pali là pañña, tiếng Phạn là prajñâ, và khi phiên âm sang tiếng Hoa thì trở thành Bát Nhã(chữ ñ đọc như là nh của tiếng Việt).

Triết lý Ấn Độ cổ xưa có 3 danh từ để chỉ định sự hiểu biết : ñâna (p) / jñâna (s), viññâna (p) / vijñâna (s) vàpañña(p) / prajñâ (s).

- Ñâna thường chỉ định sự hiểu biết thông thường, theo nghĩa rộng của nó. Trong một số kinh điển, người ta cũng gặp chữ ñâna dùng theo nghĩa pañña.

- Viññânalà sự hiểu biết dựa lên lý trí, dùng phương pháp suy luận và phân tích.

- Trong khi đó, pañña là trí huệ thâm sâu, sự hiểu biết toàn diện, có tính chất trực giác, không dựa lên lý luận, khái niệm, ngôn từ, mà vượt khỏi ngôn từ. Tiếng Pháp thường dịch là sagesse,connaissance profonde, transcendantale, hay cognition intégrale, nhưng những chữ đó vẫn chỉ diễn tả được một phần nào cái không thể diễn tả được.

Chính vì khó dịch cho nên tại các nước Á châu, người ta thường giữ nguyên phiên âm chữ Phạn, Bát Nhã trí huệ (Hoa) hay hannya-chie (Nhật) để chỉ định trí tuệ trong đạo Phật.

Trí tuệ Bát Nhã và trí tuệ thông thường, như khoa học chẳng hạn, còn khác nhau ở nơi đối tượng của sự hiểu biết. Như đức Phật đã nói rõ trong bài bài thuyết pháp “lá trong rừng Sinsapa”, sự giảng dạy của ngài chỉ nhằm vào con đường giải thoát, là điều cấp bách và thiết thực nhất. Nếu so sánh khoa học và đạo Phật với những tia sáng, thì chúng ta có thểví khoa học với ánh sáng tỏa khắp nơi, và đạo Phật với một tia laser tụ hết cả năng lực vào một điểm, tức là diệt khổ.

Trong đạo Phật còn một danh từ nữa gần với huệ là giác (bodhi, phiên âm là Bồ đề). Giác là thức tỉnh, đối lại với ngủ mê. Vì vậy trong nghi thức tụng niệm, chúng ta thường gặp câu “… xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác”. Và trong đạo Phật, giác ngộ và tuệ giác là mục đích của người tu Phật, đi theo gót của đức Phật Thích Ca, là vị “Chánh đẳng chánh giác”(samma-sambuddha), là người đã giác ngộ hoàn toàn.

Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy

Vai trò của trí tuệ trong đạo Phật nguồn gốc (primitif) và đạo Phật Nguyên thủy (Theravada) rất rõ ràng, sáng sủa: trí tuệ là phương tiện duy nhất đưa tới giác ngộ, và giải thoát khỏi khổ đau. Bài “Trí tuệ trong đạo Phật” của HT Thích Minh Châu (trong site Internet Buddhasasana) đã trình bầy một cách minh triết và đầy đủ về vấn đề này. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài điều căn bản trong giáo lý của đạo Phật Nguyên thủy.

Nếu chúng ta lấy “vòng mười hai nhân duyên” (paticca-samuppâda) mà xét lại, thì chúng ta sẽ thấy đầu mối của sự khổ đau, của sự đọa đầy trong vòng trầm luân của con người chính là vô minh (avijjâ). Vì vô minh là đầu mối của vấn đề, cho nên trí tuệ chính là giải đáp của vấn đề.

Trong “con đường chánh tám nẻo” (atthangika-magga), chánh kiến (sammâ-ditthi) và chánh tư duy (sammâ-sankappa) là hai nẻo thuộc về huệ (pañña), là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất của sự tu tập (trong khi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giới, sila, và chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định, samâdhi). Dĩ nhiên sự tu tập theo đạo Phật không thể phân chia ra thành từng giai đoạn rõ rệt như vậy, và tám nẻo của con đường đó phải được đi đều với nhau, nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy trong sự phân chia đó môt trình tự phù hợp với những gì xảy ra trong tâm lý con người. Phải nhiếp được thân khẩu ý (giới), thì mới tinh tấn, niệm và định tâm được (định), và như vậy thì mới hiểu và nhìn rõ được sự thật (huệ).

Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), là một trong những kinh cổ xưa nhất của đạo Phật, có một phẩm nói về “người ngu và kẻ trí“. Ngu phải hiểu ở đây không phải là sự ngu dốt, đần độn, kém thông minh, thiếu kiến thức, mà phải hiểu như sự mê muội, đắm chìm trong những đam mê, ảo tưởng của cuộc đời. Trí, như đã nói trên, không phải là sự thông minh, uyên bác, mà là sự hiểu biết sâu xa, trọn vẹn, về con đường chánh, đưa tới an lạc và hạnh phúc. HT Minh Châu có lấy thí dụ một người có rất nhiều kiến thức về rượu, biết rõ những chất liệu của rượu, những tác động của rượu trên cơ thể, nhưng vẫn uống nhiều rượu, vẫn say và nghiện rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy thì người ấy có trí thức chứ không có trí tuệ về rượu, người đó là người ngu. Trái lại, một người hiểu biết về rượu, nhưng cũng biết rõ sự nguy hại của rượu, không uống rượu say, không nghiện rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy mới thật là có trí tuệ về rượu, người ấy mới là kẻ trí.

Nói tóm lại, trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy có mặt trong suốt tất cảgiáo lý căn bản của đạo Phật: “bốn sự thật, con đường tám nẻo, ba pháp ấn, lý nhân duyên”… và đóng một vai trò chủ chốt trên con đường đưa tới giải thoát và giác ngộ.Trí tuệ có nghĩa là hiểu biết trọn vẹn và hành trì theo Chánh Pháp, để phá bỏ màn vô minh và nhận chân sự thật.

Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa

Trí tuệ chính là sợi dây nối liền đạo Phật nguồn gốc, đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada), tiền thân của đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là “Cổ phái Trí tuệ” (Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của Đại thừa là “Tân phái Trí tuệ” (Nouvelle Ecole de Sagesse).

Thật ra, như chúng ta được biết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, các trường phái Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng: một bên là trí tuệ và một bên là đức tin.

Tiêu biểu nhất cho trí tuệ là hệ thống Bát Nhã, dựa lên bộ kinh đồ sộ Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajñâpâramitâ-sûtra), (toàn bộ in ra được 600 quyển), với hai bài kinh quan trọng nhất là Đại Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra). Tinh thần Bát Nhã được triển khai bởi ngài Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà luận sư nổi tiếng đã chứng minh một cách sắc bén rằng sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng lý luận. Theo ngài, trí tuệ là con đường khó, mà đức tin là con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu giáo lý của đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của sự thật, sự thật tương đối (samvriti-satya) và sự thật tuyệt đối (paramartha-satya). Và sự thật tuyệt đối là tánh Không (sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng trực giác, bằng thực nghiệm.

Bài Đại Bát Nhã Tâm Kinh, tuy chỉ có 260 chữ, nhưng chứa đựng được tất cả cốt tủy của tinh thần Bát Nhã. Pâramitâ có nghĩa là vượt qua. Người ta có thể hiểu theo nghĩa vượt qua bên kia bờ, bên này là vô minh phiền não, bên kia là giác ngộ giải thoát, và trí tuệ Bát Nhã là con thuyền chở con người qua bên kia bờ sông. Nhưng đọc và thấm cả bài kinh, chúng ta mới thấy rằng trí tuệ theo tinh thần Bát Nhã rất là đặc biệt, có thể gọi là siêu việt. Trong bài kinh có câu “vô trí diệc vô đắc”, nghĩa là không có trí tuệ mà cũng không có chứng đắc. Sau khi khẳng định rằng “không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”, thì kinh nói rằng “không có vô minh, cũng không có hết vô minh, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứngđắc “, tức là tất cả những gì đã học trong giáo lý căn bản của đức Phật đều không có thật, đều là những chân lý tương đối, tạm bợ… Bởi vì tướng Không của các pháp là không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt, không một không hai. Thấu được lẽ Không của các pháp, của mọi sự vật, mới là trí tuệ thực sự, vượt qua cả trí tuệ (au-delà de la sagesse). Đó mới là ý nghĩa của kinh Bát Nhã siêu việt, tức là Prajñâpâramitâ-sûtrâ, bộ kinh căn bản của Đại thừa.

Trí tuệ trong Thiền tông

Tinh thần Bát Nhã được tiếp nối trong Thiền tông Trung Hoa, từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ Ấn Độ qua vào thế kỷ thứ 6. Người ta thường gán cho ngài Bồ Đề Đạt Ma 4 câu thu gọn lại tôn chỉ của Thiền, là “Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật “. Nhưng thật ra, theo các nhà Phật học, thì Lục tổ Huệ Năng mới là tác giả của tôn chỉ này. Và điểm quan trọng là ngài đã đánh dấu một khúc ngoặt, đã làm một cuộc cách mạng trong Thiền tông bằng cách thay thế quan niệm “khán tâm” bằng quan niệm “kiến tánh”.

Theo ông Daisetz Suzuki, hai chữ “khán” và “kiến” đều có nghĩa là “nhìn”, song chữ “khán” có chữ “thủ” trên chữ “mục”, như bàn tay để trên mắt để che ánh sáng, với ý nghĩa “cố gắng nhìn” (hay là “nhòm, soi”, (regarder, scruter), trong khi đó “kiến” chỉ có chữ “mục” trên đôi chân, tức là “thấy”, một cách tự nhiên, không cố gắng (voir). Như vậy, quan niệm cổ điển của Thiền là “khán tâm”, cố gắng nhìn vào cái tâm của mình, soi cái tâm của mình, trong khi đó ngài Huệ Năng chủ trương “kiến tánh”, nhìn thấy cái tánh, cái Phật tánh trong mình, một cách tự nhiên và hồn nhiên, không cố gắng.

Từ đó, cái nhìn của Thiền về trí tuệ trở nên vô cùng đơn giản : “mây tan thì trăng hiện”. Không cần phải mài viên gạch để mong nó trở thành tấm gương, không cần phải tự hỏi cây phướn động hay gió động. Chẳng nên phân tách, đắn đo, suy nghĩ, bởi vì chỉ cần một niệm dấy lên là bị sương mù cuốn đi xa ngàn dặm. Bởi vậy cho nên giác ngộ có thể tới từ một tiếng hét, từ một viên đá văng vào một khúc gỗ, một mảnh tượng Phật bùng cháy… Phật chính là tuệ giác, là ở trong tâm mình chứ không đâu xa lạ. Tìm trí tuệ ở đâu khác cũng là “ôm cây đợi thỏ” hay “khắc thuyền tìm kiếm”.

Thiền cũng ở trongđường hướng chung của Bát Nhã, không chấp trước, không phân biệt, không mong cầu, không trụ vào đâu. Chính “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là câu trong kinh Kim Cương đã khai trí tuệ cho Lục tổ Huệ Năng và vua Trần Thái Tông.

Con đường phát triển trí tuệ

Làm thế nào đểphát triển trí tuệ? Đó là câu hỏi chung của những người tu học Phật.

- Đối với người mới học Phật thì đạo Phật có vẻ phức tạp, với nhiều môn phái, kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất thời giờ hay có khi có hại.

- Đối với người đã lâu năm tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều hành lý về giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì hành lý nặng quá!).

Đạo Phật là một con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những kinh nghiệm cá nhân, chỉ có giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều kinh nghiệm cá nhân, chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung:

1. Những lịch trình tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn giá trị.

* Đó là “tam vô lậu học”, tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña).

* Đó là “văn, tư, tu”, tức là ba loại hiểu biết, được phân biệt trong Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga): sự hiểu biết dựa lên học hỏi (sutta-maya-pañña), sự hiểu biết dựa lên suy tư (cinta-maya-pañña) và sự hiểu biết dựa lên tu tập (bhavana-maya-pañña).

* Đó là ” lục độ Ba la mật “, tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.

2. Trí huệ dĩ nhiên là giai đoạn cuối cùng và cao nhất. Nhưng chúng ta cũng không quên được vai trò cốt yếu của thiền định (bhavanahayjhâna / dhyâna): chính nhờ thiền định mà đức Phật Thích Ca đã giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề, và chỉ có thiền định mới giúp phát triển được trí huệ, nhờ hai phương pháp là chỉ (samatha, calme mental, tranquillity), tức là định (samâdhi), và quán (vipassana, vision pénétrante, insight). Một câu hỏi có thể đặt ra, nhưng có lẽ chỉ có những đương sự mới có thể trả lời được: tụng niệm (theo Tịnh Độ tông chẳng hạn) có thể đưa tới trạng thái chỉ (hay định), nhằm đi tới “nhất tâm bất loạn”. Nhưng liệu tụng niệm có thể nào đưa tới trạng thái quán, và như vậy đưa tới huệ không?

3. Kinh điển có cần thiết hay không trong sự phát triển trí tuệ? Thiết tưởng đạo Phật là con đường trung đạo, cho nên cũng nên nhìn kinh điển trong tinh thần đó.

Kinh điển chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng, cho nên không nên coi kinh điển là chính yếu, không nên bám víu vào kinh điển, và bù đầu bù óc vào kinh điển.

Ngược lại, cũng không nên bác bỏ mọi kinh điển, bởi vì kinh điển có thểgiúp mình tiến bước trên con đường tu học. Chúng ta nên nhớ rằng ngay cả những người có căn cơ xuất chúng như ngài Huệ Năng cũng nhờ nghe câu kinh mà ngộ đạo.

Liên hệ giữa từ bi và trí tuệ

Nói về trí tuệ sẽ rất thiếu sót nếu không nói tới những tương quan giữa từ bi và trí tuệ.

Người ta thường cho rằng đạo Phật Nguyên Thủy đặt nặng về trí tuệ, trong khi đạo Phật Đại Thừa đặt nặng về từ bi. Sự thật không hẳn là như vậy.

Trong kinh Từ Bi (Metta-sutta), thuộc hệ thống Pali, đức Phật đã dậy cho chúng ta phải thương yêu, cứu độ tất cả các chúng sanh, không phân biệt, không điều kiện, không giới hạn. Trong bài kinh này, ngài không nói tới những liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và từ bi, nhưng nếu chúng ta hiểu rõlý duyên khởi, là sự tương quan, tương duyên, tương tác, tương hữu giữa mọi sự vật, thì sự liên hệ mật thiết giữa từ bi và trí tuệ trở nên vô cùng sáng tỏ. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có liên đới với nhau như anh em, bà con ruột thịt, cho nên sự khổ đau của chúng sanh cũng không khác gì sự khổ đau của chính mình.

Với Đại Thừa, lý tưởng A La Hán được thay thế bằng lý tưởng Bồ Tát, và từ bi được đề cao bởi những nhân vật như ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti): “Sở dĩ Bồ Tát bệnh là bởi vì chúng sanh bệnh. Bao giờ chúng sanh khỏi bệnh, thì Bồ Tát cũng khỏi bệnh”. Trong Kinh cũng nhấn mạnh : “Có hai điều mà Bồ Tát phải ghi nhớ, là không bao giờ bỏ rơi chúng sanh, và nhìn thấy rõ rằng tất cả là Không”.

Có thể nói rằng từ bi có vững chắc được là nhờ nền tảng trí tuệ, và trí tuệ có phát triển được là nhờ ở từ bi.

Thiếu trí tuệ thì từ bi sẽ có thể chỉ là cảm xúc nhất thời, và thiếu từ bi thì trí tuệ khó lòng được thể hiện. Trong hành động cứu độ chúng sanh, con người từ bi tự quên mình, thực nghiệm được thêm Vô ngã, tánh Không, và tự mở mang thêm trí tuệ. Tới khi không còn phân biệt giữa người cứu độvà người được cứu độ, thì lúc bấy giờ đã tự giải thoát hoàn toàn.

Từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chẩy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa.

Như vậy, trong đạo Phật, từ bi và trí tuệ bổ túc cho nhau, nương vào nhau mà hiện hữu, cũng như hai mặt của một bàn tay, hay đôi cánh của một con chim.

Con chim bay xa, bay xa mãi, khi không còn thấy bờ bên này hay bên kia…

[Tác giả: Trịnh Nguyên Phước]

Phát huy sức mạnh tư duy - Tư duy tổng lực [Clip]

Học thói quen chuyên nghiệp để thành công [thói quen - thành công]


Những chuyên gia thành công nhất thường có thói quen làm việc chuyên nghiệp từ sớm để định hướng cho sự nghiệp phát triển của mình. Nếu muốn thành công bạn cũng phải như thế.Vậy những thói quen chuyên nghiệp đó là gì?


Những lời gợi ý dưới đây sẽ hướng dẫn bạn tạo ra những thói quen tốt để đạt được sự tích cực trong năng suất làm việc:

1. Tạo và làm theo danh sách công việc hàng ngày
Không có một lý do gì để bạn phải “lúng túng” tại nơi làm việc chỉ vì không chuẩn bị và không tập trung. Việc đặt ra một kế hoạch sẽ giúp bạn hình dung rõ hơn về mục đích và cách hiệu quả nhất để đạt được mục đích đó. Bạn có thể tổ chức tốt công việc nếu bạn vẽ ra một biểu đồ những việc cần làm trong ngày và cuối ngày. Một người có đầu óc tổ chức sắp xếp tốt luôn đạt được hiệu quả mà không bị lãng phí thời gian vô ích.

Xem xét từng nhiệm vụ và luôn ghi nhớ trong đầu rằng bạn đang làm việc cho ai – những người cần biết đến sự tiến bộ của bạn và bạn mong đợi những gì từ những người cộng tác với bạn. Tạo một danh sách công việc và mục tiêu hoàn thành chúng trong một thời gian nhất định. Nếu có việc gì cần được điều chỉnh, bạn nên giải quyết nó một cách nhanh chóng và cố gắng tránh ảnh hưởng tới những nhiệm vụ khác.

Những thói quen chuyên nghiệp thường đòi hỏi cách “tiếp cận” nhiệm vụ đúng hướng. Cách tiếp cận này chính là tạo ra một luồng công việc phù hợp và cho phép bạn thiết lập được thời hạn thực tế. Nếu công việc của bạn được tổ chức, tâm trí của bạn sẽ phối hợp một cách nhịp nhàng, và khi đó tổng thể chất lượng và sự thoả mãn trong công việc của bạn sẽ tăng lên.

Một khi bạn đã làm chủ được những thói quen chuyên nghiệp như việc hàng ngày lập kế hoạch, bạn có thể mở rộng nó để lập kế hoạch hàng tuần, như vậy bạn sẽ biết rõ ràng 5 ngày tiếp theo sẽ diễn ra như thế nào. Nếu trong trường hợp đã đến hạn chót cho một công việc nào đó, thì một danh sách các việc cần làm sẽ giúp bạn bình tâm mà thực hiện hơn là rơi vào tình trạng “đầu bù tóc rối” không biết nên làm gì và đành biến nhà thành công sở.

2. Sớm hơn 10 phút

Đúng giờ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của những thói quen chuyên nghiệp để bạn áp dụng. Đó là điều thiết yếu trong giới kinh doanh và nó là một chỉ số trung thực của các kỹ năng tổ chức và uy tín của bạn. Sự chậm chạp thường phản ánh một loạt các lỗi khác mà nhiều người sử dụng lao động sẽ tránh gặp phải. Nếu bạn là một trong số những người đi làm trễ, dù đúng hay không, bạn cũng sẽ được xem như là người cuối cùng quay lại làm việc sau bữa ăn trưa và như là người cuối cùng đến trong một cuộc họp quan trọng.

Sự đúng giờ cần phải đặt lên đầu danh sách các thói quen chuyên nghiệp để áp dụng. Hãy thử là sớm 10 phút thay cho muộn 10 phút. Bạn cũng có thể áp dụng quy tắc 10 phút vào những hạn chót khác trong kế hoạch hàng ngày của bạn. Chẳng hạn, nếu bạn có một cái hạn chót vào lúc bốn chiều, bạn hãy hoàn thành nó vào 3h50. Mỗi lần bạn làm xong sớm, giám đốc của bạn sẽ ghi nhớ và nó sẽ tốt hơn là khi bạn thường xuyên hoàn thành muộn.

Bắt đầu sớm không có nghĩa là bạn phải tiêu tốn thêm thời gian của mình để làm việc. Vấn đề là để cho tâm trí của bạn có cơ hội để thư gian trước khi bước vào công việc. Mất vài phút để đọc tin tức, nghe nhạc hay là gọi một cuộc điện thoại ngắn. Khi đó tâm trí của bạn sẽ được tập trung và sẵn sàng để làm việc. Sau giờ làm việc, làm một số việc thư giãn tương tự như vậy trước khi bạn trở về nhà. Việc có thời gian để thư giãn và không cuống cuồng chỉ vì bị chậm trễ là một trong những lợi ích của việc đúng giờ và tất cả đều bắt đầu với việc sớm 10 phút.

3. Tìm hiểu thêm về công việc qua báo chí

Càng biết nhiều, khả năng thăng tiến của bạn sẽ càng cao. Một thói quen chuyên nghiệp tuyệt vời khác cần được áp dụng đó là tìm hiểu về ngành nghề của bạn. Tạo thêm thời gian để nghiên cứu xem công ty của bạn có ảnh hưởng như thế nào đến thị trường và tìm kiếm những tạp chí có thể giúp bạn “tăng tốc” hoặc “động lực” để phát triển. Việc quyết định đọc tạp chí nào phụ thuộc vào việc bạn đang làm việc trong chuyên ngành nào. Nếu bạn không chắc chắn bắt đầu từ đâu, hãy thử đọc bất kỳ ấn phẩm nào có trong văn phòng của mình. Nếu bạn không thể tìm thấy bất kỳ bản in nào, bạn có thể “săn lùng” trong những bài báo trực tuyến.

Đọc báo không nhất thiết phải được đọc tại nơi làm việc. Nếu đam mê công việc thì một khi bạn đã chọn được một vài tạp chí yêu thích, bạn có thể đặt mua và đọc chúng vào thì giờ nhàn rỗi. Bạn càng đọc nhiều, kiến thức về chuyên ngành của bạn càng lớn. Nếu bạn áp dụng những kiến thức đó vào công việc của bạn, tất cả sự đóng góp của bạn sẽ tạo nên sức mạnh làm cho công việc của bạn sẽ luôn luôn tốt đẹp.

4. Giữ bàn làm việc gọn gàng

Một bàn làm việc lộn xộn là dấu hiệu của một tư tưởng vô tổ chức. Không có gì nói: “Tôi lộn xộn” hơn là biểu hiện của những giấy tờ rải rác trên bàn làm việc và còn “sót lại” bữa ăn nhẹ của ngày hôm qua bên cạnh chiếc máy tính. Chỉ cần có thói quen tốt và có tổ chức về những cái gì cần phải giữ và nơi cất chúng. Hãy đảm bảo rằng tất cả mọi thứ, từ các hồ sơ dự án đến rác đều có chỗ của nó. Đừng để giấy tờ chất đống, làm các thư mục cụ thể cho các dự án hiện tại, trong khi đó thường xuyên huỷ bỏ hay lưu trữ những tài liệu cũ không cần thiết.

Một bàn làm việc sạch sẽ có nghĩa là điện thoại, máy tính và lịch của bạn không bao giờ vượt ra khỏi tầm với của bạn. Với các thư mục gọn gàng, có tổ chức, bạn sẽ tiết kiệm được thời gian khi phải tìm kiếm những chú ý cho cuộc họp cuối tuần hay là dự thảo các dự án mà bạn phải soạn thảo trong buổi sáng nay.

5. Sắp xếp các e-mail hàng ngày

Tài khoản email thường xuyên bị tràn ngập bởi những thông báo hàng ngày. Email có thể tiện lợi, nhưng khi nó được gửi đến hàng loạt và quá tải thì rất dễ khiến những tin tức quan trọng bị lạc trong cả đống email quảng cáo lẫn email làm việc và có nguy cơ bị đưa vào mục “spam”. Thói quen chuyên nghiệp cuối cùng để chúng ta áp dụng là kiểm soát các thư điện tử một cách khoa học.

Bạn có thể trả lời những email ngay lập tức, nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của bạn. Thay vào đó, bạn có thể sử dụng các quy tắc email tự động để chuyển những thư mới vào trong các thư mục định trước, có thể dựa trên người gửi, chủ đề, hay điều kiện nào khác tuỳ vào việc lựa chọn của bạn. Nếu bạn có nhiều khách hàng hay dự án, chúng rất dễ theo dõi. Ngoài các quy tắc email, bạn có thể xếp hạng tin nhắn của bạn theo tầm quan trọng (email phân loại) để xác định khi nào trả lời. Một số sẽ nhận được mail trả lời ngay lập tức, các cái khác có thể chờ đợi, nhưng mọi thứ sẽ được hoàn tất vào khoảng cuối ngày làm việc.

Đừng quên sắp xếp sổ địa chỉ của bạn. Danh bạ nên luôn luôn hiện hữu, do đó bạn không cần tốn thời gian xem lại những tin nhắn cũ để tìm kiếm một ai đó. Bạn cũng có thể tổ chức danh bạ của bạn vào số lượng lớn các nhóm email, vì vậy những tin nhắn của bạn có thể đi đến những danh sách đã được cài sẵn. Điều này giúp tiết kiệm thời gian nhập địa chỉ của từng người nhận thư vào trong mail của bạn. Chỉ cần nhớ phép lịch sự trong email và những thói quen email của bạn sẽ là mẫu chuẩn.

Những thói quen cũ có thể khó bị phá vỡ, nhưng đó không phải là lý do để không cố gắng và thay thế chúng bởi những cái tốt hơn. Những người thành công là những người biết tận dụng cơ hội tốt kết hợp với thói quen chuyên nghiệp. Hãy thử làm nhé, bạn sẽ cảm thấy tự tin hơn, tổ chức tốt hơn và đạt năng suất làm việc tốt hơn.

Theo – Dân Trí

5 thói quen giúp bạn thành công hơn trong cuộc sống [thói quen - thành công]


Thành công trong cuộc sống không chỉ định nghĩa bằng công việc và tiền trong tài khoản ngân hàng của bạn mà đó là cách bạn sống cách bạn tận hưởng từng giây phút trong cuộc sống của mình. Người thành công đúng nghĩa sẽ cảm thấy rằng mình luôn hạnh phúc  và cuộc sống đầy ý nghĩa

sucmanh-tuduy.blogspot.com mong muốn chia sẽ một số thói quen có thể giúp bạn thành công trong cuộc sống của mình. Buổi sáng sớm là thời điểm tốt nhất để chúng ta chuẩn bị hành trang cho một ngày dài trước mắt. Chuẩn bị càng tốt thì bạn sẽ dễ đạt được những gì mong muốn từ đó cảm thấy thoải mái tinh thần và hạnh phúc. Quan trọng hơn, thành công mỗi ngày sẽ là phần đóng góp vào thành công to lớn của cuộc đời bạn.


Sau đây là 5 việc cần làm trước khi ăn sáng:

1- Thức dậy sớm: thức dậy sớm vào khoảng  5:00 am hoặc 6:00 am. Đây là khoảng thời gian yên tĩnh nhất giúp bạn có thể chăm sóc bản thân mình và chuẩn bi tốt cho ngày mới. Bạn có đủ thời gian tập thể dục, đi tắm, đọc tin tức, chuẩn bị đồ đạc hoặc trang điểm, ăn sáng. Điều này tốt hơn là bạn thức dậy khi đồng hồ báo thức reo và phát hiện ra mình sẽ trể giờ rồi bạn làm mọi việc nêu trên một cách vội vã và qua loa, rồi bỏ buổi sáng, rồi đến văn phòng bắt đầu ngày mới mệt mỏi.  Bạn cũng nên chú ý rằng thiếu ngủ trong thời gian dài làm bạn giảm năng xuất làm việc. Dậy sớm là một thử thách thực sự cho nhiều bạn, bạn cần chỉnh thời gian làm việc của mình một chút để đảm bảo bạn có giấc ngủ đầy đủ.

2- Tập thể dục buổi sáng: Bắt đầu ngày mới với vài động tác khởi động nhẹ, yoga, aerobic sẽ làm cho hệ tuần hoàn khởi động, đánh thức các cơ quan cũng như giác quan trong cơ thể bạn. Nó giống như làm nóng cơ thể trước khi chơi thể thao. Khởi động tốt giúp bạn lâu mệt hơn.  Tập thể dục mỗi ngày giúp bạn nâng cao trạng thái tâm lý.

3- Đặt mục tiêu cho ngày mới: Những người thành công đều phải có mục tiêu dài hạn và ngắn hạn. Sẽ rất tốt nếu bạn dành khoảng 10 phút buổi sáng để nghĩ những việc mình cần đạt được trong ngày hôm nay và nhắc lại những mục tiêu dài hạn của mình.  Khích lệ tinh thần và giúp bạn biết là mình vẫn “on the right track” hướng đến mục tiêu lớn.

4- Xác lập trạng thái tâm lý: Như chúng ta biết, trạng thái tâm lý quyết định thành công hay thất bại của mọi việc. Nên rèn luyện thói quen tạo trạng thái tâm lý thoải mái, bình tĩnh, vui vẻ, hứng khởi cho một ngày mới. Bạn có thể đọc một vài trang sách nói về suy nghĩ tích cực, nghe một bài nhạc vui yêu thích hoặc là một bài hát động viên tin thần. Bạn cũng có thể tưởng tượng về những gì mình muốn đạt được trong ngày để chuẩn bị tâm lý tốt hơn. Khi việc đó xảy ra sau đó trong ngày, bạn sẽ biết mình phải làm gì.

5- Đọc tin tức: Khi bạn ngủ, phần còn lại của trái đất vẫn hoạt động nhộn nhịp. Trong cuộc sống toàn cầu hiện nay,  bạn nên đọc hoặc xem tin tức để biết được những gì đang xảy ra đêm qua. Điều này không chỉ giúp bạn chuẩn bị cho ngày làm việc mới tốt hơn mà còn giúp bạn có thể nói chuyện ngay trong buổi ăn sáng về những chuyện vừa xảy ra đêm qua trong khi mọi người chưa kịp cập nhật.


Chúc bạn luôn bắt đầu ngày mới của mình một cách hứng khởi và luôn thành công trong cuộc sống.

Nguồn: Careerealism.com